Sự phát triển của văn xuôi Đà Nẵng từ 1975 đến 2005

Nhìn một cách khách quan, văn xuôi Đà Nẵng trong suốt thời gian qua cho dù gắn bó chặt chẽ với cuộc sống và tâm hồn con người ở địa phương cụ thể, nhưng cũng không nằm ngoài quy luật vận hành của văn học Việt Nam đương đại.

Hình minh họa
Hình minh họa

Ở giai đoạn đầu – từ năm 1975 đến 1985, đây được xem là thời kì chuyển giao của văn học từ thời chiến sang thời bình. Trong giai đoạn này, văn học vẫn còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của thời kì trước đó. Vẫn say đắm trong chiến thắng dân tộc, vẫn say mê trong sự ca ngợi Tổ quốc,… văn học theo đó vẫn tiếp tục cảm hứng lãng mạn, sử thi của nó. Tuy nhiên, cũng chính trong giai đoạn này đã bắt đầu xuất hiện những nhà văn mang tư tưởng mới – bắt đầu nhìn lại và không bằng lòng với lối viết cũ. Có thể xem đây chính là những dự cảm cần thiết để đổi mới nền văn học dân tộc sau bao nhiêu năm chìm trong mưa bom bão đạn.

Từ sau Đại học VI của Đảng (1986) đến nay, văn học nước ta đã bước vào thời kì đổi mới toàn diện. Sự xuất hiện của nhiều tác giả và tác phẩm mang hơi thở hoàn toàn mới mẻ và khác biệt đã báo hiệu cho những đổi mới mạnh mẽ cho văn xuôi đương đại Việt Nam, từ đề tài, hình tượng, ngôn ngữ, giọng điệu, cấu trúc cho đến cả phong cách nghệ thuật.

Riêng đối với văn xuôi Đà Nẵng; ra đời từ vùng đất giàu lòng yêu nước, cách mạng và văn hóa, văn học Đà Nẵng sau 1975 chính là sự tiếp nối của những thành tựu văn xuôi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Từ sau khi đất nước được thống nhất, các tác giả Đà Nẵng như có một bước đà vững chắc để liên tiếp cho ra đời những tác phẩm giá trị: Mưa trong núi (Phan Tứ), Vùng chân Hòn Tàu (Thái Bá Lợi), Mùa mưa (Thanh Quế)…

Hình minh họa
Hình minh họa

Sau khi Đại hội Văn học – Nghệ thuật Quảng Nam-Đà Nẵng lần thứ nhất, tổ chức Hội sáng tạo được thành lập vào năm 1978, không khí sáng tác văn học càng trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Các tác giả bắt đầu có ý thức sáng tác về những sự thật của chiến tranh, nhìn lịch sử bằng con mắt chân thực nhất, bằng cái nhìn của ngày hôm nay, muốn phản ánh và biểu hiện những day dứt, dằn vặt khi những con người bước ra từ chiến tranh, đi từ con người trong chiến tranh đến con người đời thường; không chỉ những nhà văn trưởng thành trong chiến tranh mà kể cả những nhà văn bất đầu sáng tác sau chiến tranh cũng góp thêm cho văn xuôi Việt Nam những giọng văn mang màu sắc rất mới.

Giai đoạn từ 1986 đến 2005 được cho là thời kì văn hòa bình của đất nước cũng như của thành phố Đà Nẵng. Do đặc trưng địa lý, Đà Nẵng thường phải đi đầu trong hai cuộc chiến đấu chống thực dân. Cũng là vùng đất năng động, Đà Nẵng luôn cố gắng thay đổi, vận động, đi lên để tự đổi mới chính mình. Bước vào giai đoạn này, lực lượng viết văn Đà Nẵng bắt đầu được bổ sung bởi nhiều gương mặt trẻ. Trong những năm cuối 80 đầu 90 của thế kỉ trước, văn xuôi Đà Nẵng bắt đầu có nhiều khởi sắc, đặc biệt là đối với truyện ngắn: Phiên tòa trên cátTruyện ngắn Tiêu  Đình (Tiêu Đình), Nội tôi hay Trên nẻo đường giao liên (Bùi Tự Lực), Ngọn đàn ban ngày (Thuận Hữu),…

Từ 1975 đến 2005, không chỉ văn xuôi Đà Nẵng mà nền văn học trong cả nước cũng đã có nhiều sự thay đổi; không còn quá trào phúng như của: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng,… không còn sự hào hùng của thời chiến như: Chính Hữu, Phạm Tiến Duật,… văn chương thời kì này đã bắt đầu có sự “ngoái nhìn” về những đau thương, mất mát mà chiến tranh gây ra theo đó người nghệ sĩ được sống thật hơn với suy nghĩ, tình cảm của chính mình.